Phong cách người Đà Lạt

Lịch Sử Phát Triển

1. VÀI NÉT VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CƯ DÂN ĐÀ LẠT
Hình thành và phát triển trong vòng 100 năm, thành phố Đà Lạt còn rất trẻ nhưng với nhiều ưu thế tự nhiên, nó đã xác định cho mình một bản sắc cá biệt.


Đà Lạt là nơi hội tụ của nhiều nguồn cư dân. Từ trước, nơi đây đã là quê hương lâu đời của người Lạch. Người Pháp trong ý đồ tìm kiếm cho mình nơi nghỉ dưỡng, đã đến Đà Lạt và trong một thời gian dài xây dựng thành phố với dáng dấp và bộ mặt đến nay vẫn còn thể hiện rõ nét. Người Kinh đến Đà Lạt định cư đồng thời với người Pháp. Họ đóng góp sức lực, ý chí lớn lao trong việc xây dựng thành phố và gắn bó lâu dài với vùng đất họ chọn làm quê hương cho mình và con cháu mai sau.
Ngày nay, Đà Lạt là thành phố cao nguyên có số lượng người Kinh chiếm đa số tuyệt đối, nên nói đến phong cách người Đà Lạt là đề cập đến lối sống và cách ứng xử của nhóm cư dân này.
Đà Lạt là thành phố không những trẻ trong tuổi đời mà còn trẻ trong cá tính. Các luồng dân nhập cư và con cháu của họ mới có một thời gian chưa dài trong quá trình hội nhập, giao thoa giữa các cá tính và bản sắc địa phương. Đà Lạt vừa là môi trường tổng hòa các mối giao lưu vừa là kết quả tổng hợp các tinh hoa từ nhiều miền để hình thành cho mình một bản sắc với nhiều dáng vẻ độc đáo. Trong quá trình tổng hợp, không loại trừ khả năng chọn lọc, đào thải, vì thế bản sắc cư dân Đà Lạt không phải tổng cộng các sắc thái địa phương. Điều này xác định cư dân Đà Lạt có các giống cư dân các miền khác nhưng không phải là cư dân bất cứ một miền nào trên đất nước.
Chắt lọc, tinh chế, tổng hòa đã đúc thành một mẫu người Đà Lạt có dáng dấp Huế nhưng không phải Huế, Hà Nội mà không phải Hà Nội, Quảng mà không hẳn Quảng Nam hay Quảng Ngãi. Bản sắc con người Đà Lạt rất dễ cảm nhận và phân biệt nhưng gọi tên nó là gì vẫn còn là chuyện rất tế nhị.
2. KHÁI NIỆM VỀ PHONG CÁCH
Khái niệm về phong cách đã có từ xa xưa và được hiểu một cách khá nhất quán trong quan điểm Đông và Tây theo hai nghĩa:
Nghĩa thứ nhất: Phong cách bao gồm phong độ, phẩm cách của con người. Phong độ là dáng vẻ, sắc thái bề ngoài. Phẩm cách là cách thức ứng xử giao tiếp thể hiện những phẩm chất về tư tưởng, tình cảm bên trong của con người đó.
Nghĩa thứ hai: Phong cách là cách thức riêng thể hiện ở các tác phẩm văn học, nghệ thuật của một tác giả, một nghệ sĩ, một thời đại, một xứ sở.
Phong cách đang bàn ở đây hiểu theo nghĩa thứ nhất và đầu tiên được dùng với nghĩa tốt đẹp. Khi ta nói một người có phong cách là mặc nhiên công nhận người đó có dáng vẻ chững chạc, sắc thái trang nghiêm, ứng xử kín đáo và giao tiếp lịch sự. Theo thời gian, khái niệm phong cách mất dần ý nghĩa tốt đẹp ban đầu để chuyển sang nghĩa trung tính. Có thể nói người này có phong cách tốt, người kia có phong cách xấu, mặc dù cách nói sau ít dùng hơn. Phong cách hình thành và chịu tác động của các điều kiện tự nhiên, môi trường, văn hóa, xã hội, kinh tế... qua các thời kỳ phát triển lịch sử.

3. YẾU TỐ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH ĐÀ LẠT
3.1 Yếu tố tự nhiên, môi trường, cảnh quan:
Đà Lạt trong ý thức mọi người là một xứ sở thơ mộng, một vùng khí hậu trong lành, mát mẻ. Đà Lạt bốn mùa mát lạnh đem đến cho người Đà Lạt một cách phục sức đàng hoàng, trang nhã.
Y phục kín đáo là một nhu cầu của người Đà Lạt và họ không thể bỏ quên yếu tố đó khi tìm kiếm vẻ đẹp của mình. Vẻ kín đáo đó làm cho người Đà Lạt có một nét trầm tư, thanh lịch.
Không những trong trang phục, ăn ở của người Đà Lạt cũng mang dáng vẻ kín đáo. Nhà cửa ở Đà Lạt, dù biệt thự hay nhà bình dân, vẫn ấm cúng, không thoáng gió như ở xứ nóng. Mọi sinh hoạt chỉ thu gọn trong phạm vi ngôi nhà.
Khí hậu mát mẻ còn ảnh hưởng đến thể chất con người. Khí hậu Đà Lạt thuận lợi cho thiếu nữ và trẻ em nên họ có dáng dấp chắn chắn, khỏe mạnh, đôi má ửng hồng, nhất là những ngày sương giá giữa mùa hoa mai anh đào. Cái đẹp người thiếu nữ Đà Lạt là cái đẹp khỏe mạnh, tinh khiết, không son phấn màu mè, nét đẹp trầm trầm, kín đáo, e thẹn nhưng rất tự tin.
Đà Lạt là một vùng không gian xanh. Đồi thông, bãi cỏ, da trời, màu nước... tất cả một màu xanh. Màu xanh mang đến cho con người sức sống, niềm tin yêu, hy vọng. Màu xanh làm cho con người có cảm giác yên lành, bình thản.
Dân số Đà Lạt chưa cao lắm so với diện tích tự nhiên nên mật độ dân cư cũng như các phương tiện giao thông, sinh hoạt chưa gây nên những khó chịu, căng thẳng cho con người. Môi trường sống Đà Lạt trong lành, tĩnh lặng. Tốc độ, nhịp độ sống không xô bồ, náo nhiệt, khẩn trương như các thành phố khác. Môi trường ấy làm cho con người thanh thản, dễ chịu, có ảnh hưởng tốt cho loại hình lao động trí óc, những ngành nghề có yêu cầu chính xác, tinh vi.
Nhiều nhà xã hội học đã xác nhận người nông dân chất phác, hiền lành, chân thật hơn người thành phố là do họ thường xuyên tiếp xúc với thiên nhiên trong điều kiện chưa có sự can thiệp của các yếu tố tiện nghi cơ giới. Thiên nhiên bao quanh người Đà Lạt hầu như còn nguyên. Con người Đà Lạt tuy tiếp xúc với các tiện nghi vật chất mới nhưng ảnh hưởng cảnh quan, môi trường tạo cho họ một tính cách vừa hiền lành đôn hậu của người sống gần thiên nhiên vừa có nét hiện đại hài hòa với cốt cách dân tộc một cách đậm đà.
"Nếu con người là tổng hòa các mối quan hệ tự nhiên và xã hội thì yếu tố thiên nhiên dự phần quan trọng hình thành phong cách của con người sinh trưởng tại xứ sở "muôn hoa, ngàn cây, núi non trùng điệp này". Đã là con người, ai cũng có nhu cầu được thoải mái, dễ chịu, không bị hoàn cảnh làm căng thẳng tinh thần. Hoạt động trí óc, hành vi ứng xử hằng ngày chịu ảnh hưởng sâu đậm của môi trường. Đà Lạt với khí hậu ôn hòa, quang cảnh tươi đẹp là môi trường lý tưởng cho sự phát triển một phong cách lành mạnh, hài hòa. Nếu nghiên cứu kỹ, ta có thể thấy rằng thiên nhiên Đà Lạt tự nó đã góp phần đào luyện trí tuệ, tâm tính con người sinh ra trong lòng nó. Cách tư duy có lý có tình, lối nhìn sự vật một cách toàn diện dường như tiềm ẩn tự nhiên nơi họ".
3.2 Yếu tố xã hội, kinh tế
Cư dân Đà Lạt từ nhiều nguồn đổ về. Trong cộng đồng cư dân ấy có nhiều yếu tố địa phương gốc gác chung đụng, cọ xát để hình thành một tập thể cư dân vừa có cái gì đó của Đà Lạt và một phần nào đó của các địa phương. Có thể nói, ngoài một số rất nhỏ người gốc Nam Bộ, phần lớn cư dân Đà Lạt đều có xuất xứ từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và miền Trung. Trong đó phải kể nhiều nhất là dân các tỉnh phụ cận Hà Nội, Nghệ Tĩnh, Trị Thiên, Nam - Ngãi - Bình - Phú. Họ đến Đà Lạt mang theo truyền thống, bản sắc của những địa phương đã có độ dày bền vững và những nét cá biệt độc đáo không thể lẫn lộn được.
Người miền Bắc ở Đà Lạt phần lớn là người Hà Nội và các tỉnh chung quanh. Ở đó họ đã có một truyền thống văn hiến lâu đời với đầy đủ lễ nghi, tập tục, phong cách, lối sống. Ngôn ngữ và phong thái của nhóm cư dân này cũng mang vẻ chính thống ở một chừng mực nhất định nên có ảnh hưởng khá lớn trong tập thể cư dân thành phố từ những ngày đầu đến bây giờ. Họ vào Đà Lạt rất sớm. Năm 1938 đã hình thành ấp Hà Đông của nhóm người này. Năm 1954, Đà Lạt tiếp nhận một lượng lớn người Bắc di cư là trí thức, tư sản, tư thương định cư ở nội thành và bà con nông dân định cư trong những ấp mới. Năm 1975, một số cán bộ, chiến sĩ miền Bắc vào Đà Lạt công tác mang theo gia đình thân thuộc lập nghiệp lâu dài tại đây.
Với nhiều ưu thế, số người miến Bắc đã có sự đóng góp tích cực vào việc hình thành phong cách người Đà Lạt như hiện nay. Trong người dân Đà Lạt hôm nay có cái tế nhị, nhẹ nhàng, giọng nói giàu âm sắc, thái độ ân cần niềm nở, nhất là sự nhã nhặn, lịch thiệp, trọng lễ nghi... của người Hà Nội nghìn năm văn hiến.
Người Trị -Thiên phần đông sống về nghề làm vườn, công chức, giáo viên và buôn bán nhỏ. Họ vào Đà Lạt không ồ ạt nhưng liên tục, đều đặn nên số người Trị - Thiên hiện nay rất đông. Họ sống phần lớn ở nội thành xen lẫn với các nhóm cư dân khác.
Người Trị - Thiên vào Đà Lạt mang theo phong tục tập quán chịu ảnh hưởng lễ nghi cung đình triều Nguyễn. Từ cách ăn mặc, bố trí nhà ở, trang trí nội thất đến ma chay, đình đám, hội hè, cưới hỏi... người Trị - Thiên còn giữ nhiều tập tục cổ truyền hơn hết các nhóm dân khác. Nhóm người này còn có tinh thần gia tộc và quê hương mãnh liệt. Ở đâu có người Trị - Thiên là ở đó có nhà thờ họ, tế tự, giỗ chạp theo chu kỳ như ở quê cũ. Họ gắn bó chặt chẽ với cố hương. Sinh hoạt tế tự các làng đồng hương, giỗ chạp các họ là một hình thức sinh hoạt của hội tương tế. Ở đó không chỉ thắt chặt tình tương ái giữa những người ở đây mà còn làm cầu nối gắn bó số người này với quê hương, dòng họ, mồ mả tổ tiên.
Người Trị - Thiên kỹ tính trong làm ăn cũng như trong sinh hoạt. Chiếc áo dài, chiếc nón bài thơ là cách điệu chính của người dân Trị - Thiên. Đến bây giờ, Huế vẫn là nơi sản xuất và cung cấp nón cho đại bộ phận thiếu nữ Đà Lạt. Đến chùa Linh Sơn trong một ngày lễ Phật giáo, người ta có cảm tưởng như đang ở giữa thành phố Huế. Điều đó nói lên ảnh hưởng văn hóa Trị - Thiên khá mạnh không những trong một nhóm cư dân mà cả trong nhiều mặt sinh hoạt của thành phố.
Người Nam - Ngãi - Bình - Phú vào Đà Lạt rất sớm, chủ yếu là người làm công khai thác tài nguyên và xây dựng cơ sở hạ tầng thành phố. Họ định cư trong những ấp dọc theo con đường sắt và đường bộ Phan Rang - Đà Lạt là những công trình họ đã góp công sức hình thành. Với truyền thống cần cù, chịu thương chịu khó, họ đã tự lực cánh sinh xây dựng cuộc sống mới mà không nhận được một ân huệ, chiếu cố nào của chính quyền.
Khác với người Huế, người Nam - Ngãi - Bình - Phú rất thực tế, không chú ý hình thức. Điều kiện ăn ở, sinh hoạt, phục sức còn đặt nặng vấn đề bền chắc, tiện lợi hơn thẩm mỹ, trưng bày. Xuất thân từ một vùng quê có truyền thống cách mạng và tinh thần thượng võ, nhóm người này giàu ý chí, nghị lực và cá tính rất rõ ràng.

Ngoài ba nhóm dân chiếm ưu thế về số lượng kể trên, phải nói đến nhóm dân Nghệ - Tĩnh và nhóm dân các tỉnh Nam Trung Bộ lên định cư ở Đà Lạt. Tuy số lượng không nhiều nhưng bản sắc của họ, nhất là nhóm dân Nghệ - Tĩnh, đã hiện diện trong phong cách người Đà Lạt hiện nay. Người Nghệ - Tĩnh rất mực cần cù, chịu khó. Có thể do điều kiện tự nhiên, kinh tế nơi quê cũ khắc nghiệt nên khi đến Đà Lạt họ ra sức lao động, không quản ngày đêm và nhanh chóng xác định được chỗ đứng trong cộng đồng cư dân thành phố. Về phong tục, tập quán, ngôn ngữ, họ gần giống như nhóm dân Trị - Thiên, nhưng ý chí và nghị lực có nét tương đồng dân Nam - Ngãi - Bình - Phú, đặc biệt là truyền thống bất khuất, ý chí tự cường, nhiệt tình cách mạng. Dân các tỉnh Nam Trung Bộ lên Đà Lạt với lý do chính là kinh tế. Do vị trí cận kề, họ lên Đà Lạt sinh sống rất sớm và ngày càng nhiều. Họ như chiếc cầu nối gắn liền Đà Lạt với vùng biển phía dưới qua hoạt động mua bán, trao đổi của mình. Giọng nói người Đà Lạt có phần nào gần gũi với giọng nói các vùng duyên hải Nam Trung Bộ là ở bộ phận dân cư này.
Những nhóm dân trên trong quan hệ đã có sự giao lưu, điều chỉnh để hòa hợp và bổ sung cho nhau. Trước hết, họ loại trừ những cá tính địa phương không được phổ biến, các tiếng địa phương quá cục bộ. Sự chung đụng làm nảy sinh một giọng nói Đà Lạt pha trộn âm sắc của nhiều miền. Một sự thực không ai chối cãi được là những người Đà Lạt thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba thường có hai giọng nói khác nhau khi ở nhà và khi ra ngoài xã hội. Sự đổi giọng của họ rất tự nhiên và không mấy khó nhọc. Trẻ em ở ấp Ánh Sáng, ấp Thái Phiên nói giọng Huế, trẻ em ở ấp Hà Đông, ấp Du Sinh ... nói giọng Bắc nhưng đến trường học, các em đều nói với nhau một giọng Đà Lạt khác với giọng nói của cha mẹ ở gia đình. Âm vực giọng nói Đà Lạt gần gũi giọng nói các tỉnh Nam Trung Bộ, Sài Gòn nhưng cũng rất khác với giọng nói cụ thể một nơi nào đó như Nha Trang, Phan Rang, Sài Gòn chẳng hạn.
Sự chung đụng đã làm xuất hiện một mẫu người Đà Lạt càng về sau càng rõ nét bản sắc. Người các địa phương khác nhau đến đây đều mang trong mình một bản sắc địa phương tương đối cố định, chỉ được điều chỉnh phần nào trong quá trình hội nhập. Ở Đà Lạt đã hình thành lớp người thứ hai, thứ ba là con cháu của các thế hệ đầu tiên đến sinh cơ lập nghiệp hay những người đến Đà Lạt khi tuổi còn rất bé. Ở lớp người này, ảnh hưởng quê hương gốc chỉ được truyền lại qua gia đình. Họ chịu sự tác động trực tiếp của thành phố trong việc hình thành nhân cách của mình.
Nói về phong cách cư dân thành phố hiện nay, không thể bỏ qua sự đóng góp của một nhóm dân có thời đã hiện diện ở Đà Lạt với vị trí đặc biệt: người Pháp.
Người Pháp xuất hiện ở thành phố Đà Lạt là những con người văn minh, lịch sự, khác hẳn với những lính viễn chinh trong các cuộc càn quét hay những ông chủ thực dân trong các đồn điền, hầm mỏ. Do đó họ có ảnh hưởng đáng kể đến phong cách người Đà Lạt.
Người Đà Lạt có đầu óc rộng mở, không bảo thủ, cố chấp. Họ tiếp nhận văn minh, văn hóa Pháp một cách có chọn lọc. Họ loại trừ những biểu hiện của lối sống tha hóa, lai căng, dẫm đạp lên truyền thống dân tộc, nhưng sẵn sàng tiếp nhận những giá trị văn minh nhân bản tiến bộ. Điều này giữa hai dân tộc Pháp - Việt có nhiều điểm tương đồng dễ chấp nhận lẫn nhau.
"Phú quý sinh lễ nghĩa". Phong cách con người là một biểu hiện mang tính lễ nghĩa, tùy thuộc mức độ "phú quí" mỗi cá nhân. Đất đai Đà Lạt màu mỡ, nhiều tiềm năng, nghề làm vườn, trồng rau hoa và trồng cây ăn quả đã tiến tới trình độ thâm canh. Với nhiều cây đặc sản quí hiếm có giá trị lớn, nghề trồng rau hoa và cây ăn quả đã đem lại cho người nông dân thu nhập cao trong khi công sức và vốn liếng đổ ra tương đối ít.
Một phần cư dân Đà Lạt còn sống bằng các nghề dịch vụ du lịch. Số lượng khách vãng lai đến Đà Lạt hàng năm ngày càng gia tăng đã mang lại cho Đà Lạt một nguồn thu nhập khá lớn.
Tất cả những yếu tố đó đã bảo đảm cho người dân Đà Lạt một cuộc sống đầy đủ, tương đối ổn định.
Mức sống cao khiến cư dân Đà Lạt có những yêu cầu cao hơn cho con cái. Đã có đủ điều kiện thuận lợi, người Đà Lạt không ngần ngại đầu tư giáo dục thế hệ trẻ. Trình độ học vấn của cư dân ngày càng cao, phong cách người dân ngày càng tao nhã, lịch sự hơn.
3.3 Yếu tố tư tưởng, tinh thần
Hệ thống giáo dục trên địa bàn Đà Lạt được xây dựng từ rất sớm và đến nay đã hoàn chỉnh từ mẫu giáo đến đại học. Các trường học ở Đà Lạt đã đào tạo cho thành phố một đội ngũ cán bộ, trí thức, chuyên viên hoạt động trong nhiều ngành nghề và nâng cao trình độ văn hóa, dân trí một cách đáng kể.
Đà Lạt với vẻ đẹp tự nhiên của mình là đề tài cho biết bao nguồn cảm hứng nghệ thuật. Các tác phẩm văn, thơ, nhạc, họa phản ánh thiên nhiên và con người Đà Lạt đã giới thiệu với nhân dân cả nước và quốc tế là "xứ hoa anh đào", "xứ mù sương"...
Sống trong một khung cảnh quá quen thuộc, người dân Đà Lạt đôi khi không ý thức hết được vẻ đẹp của thành phố mình, những tác phẩm nghệ thuật đã lý giải và nhắc họ chú ý hơn vẻ đẹp của thành phố và của chính mình, khơi dậy trong họ những tình cảm tự hào và suy nghĩ về một cách sống cho tương xứng. Văn, thơ, nhạc, họa kết hợp với khung cảnh hữu tình đã đưa con người Đà Lạt đến chút ít mộng mơ.
Đà Lạt còn là nơi nhiều văn nghệ sĩ ước mơ đến thăm và đã một thời là nơi giao lưu, gặp gỡ của các văn nghệ sĩ miền Nam. Sáng tác nghệ thuật bắt nguồn từ những rung động mãnh liệt. Đà Lạt mở ra trước mắt người mới đến một kỳ quan nên thơ nên trong giây phút hội ngộ đầu tiên giữa Đà Lạt và nghệ sĩ đã nảy nở biết bao rung động. Đó là nguồn cảm hứng quí giá bất chợt sẽ được thể hiện trong các tác phẩm nghệ thuật. Văn học nghệ thuật đem đến cho phong cách người Đà Lạt một nét độc đáo, một tâm hồn đa cảm, sâu sắc, một dáng dấp điềm đạm, trầm tư, thanh nhã hài hòa với không gian mênh mông tĩnh lặng của ngàn thông.
Tôn giáo và tín ngưỡng đã góp phần không nhỏ tạo nên phong cách người Đà Lạt. Cư dân Đà Lạt, ngoài một số người không theo một tôn giáo nào, khá đông là người có đạo. Ở Đà Lạt có nhiều tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau: Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Tin Lành...
Đạo Thiên Chúa và đạo Tin Lành có tổ chức và hoạt động chặt chẽ. Đạo phật có tính cách đại chúng hơn, đã ăn sâu vào cuộc sống dân tộc một thời gian dài nên khó phân biệt tín đồ Phật giáo với những người không có đạo, chỉ thờ cúng tổ tiên theo quan niệm triết lý Á Đông. Đạo Cao Đài mới phát sinh và truyền bá vào đầu thế kỷ 20, du nhập vào Đà Lạt từ giữa thập niên 30.
Trong cộng đồng các cư dân Đà Lạt, tín đồ các tôn giáo vẫn sống hòa thuận, đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau và cùng mưu cầu một cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Một số cư dân Đà Lạt tuy có tín ngưỡng rõ ràng nhưng không cố chấp, bảo thủ nên giữa các tôn giáo vấn đề hôn phối, vấn đề qua lại trong tình làng nghĩa xóm những khi quan hôn hiếu hỉ là chuyện xảy ra rất bình thường.

Nguồn: Đà Lạt - Thành phố cao nguyên

Dân số TP. Đà Lạt tính đến 1-4-1999 là 160.663 Người

DDiện tích toàn thành phố là 391,06 km2

Mật độ trung bình là 410 người/km2

Thành phố Đà Lạt có 12 phường và 3 xã vùng ven

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lang Biang.

Độ cao trung bình so với mặt biển khoảng 1.500m.

Kinh độ : từ 108019’23’’ đông đến 108036’27’’ đông

Vĩ độ : từ 11048’36’’ bắc đến 12001’07’’ bắc